| Buồn Vui Trên Đường Đi |
|
Trong thời gian thiện nguyện viên của Tình thương Foundation thực hiện những chuyến thăm viếng và gửi quà đến cho các thương binh Việt Nam Cộng Hòa đang còn sống ở Việt-nam thì các anh chị này đã trãi qua không biết bao nhiêu chuyện buồn vui trên đường đi. Nay TTF gom góp lại một số chuyện coi như là để chia sẻ với quý bạn đọc những thông tin có liên quan đến công việc TTF đang theo đuổi. Chuyện buồn thì đương nhiên là buồn rồi, nhưng những chuyện cho là vui mà sao khi đọc cũng ngậm ngùi không kém. Những câu chuyện dưới đây được viết lại theo lời kể của các thiện nguyện viên TTF; những người đã đến tận hang cùng ngõ hẻm nơi thành phố hay các xã ấp xa xôi hẻo lánh để thăm viếng và trao phần quà mà chúng ta đã quyên góp được trong năm. Vì là những chuyện có thật đã xảy ra, phản ảnh cuộc sống thật của các anh thương binh ở Việt Nam cho nên có thể có một vài mẫu chuyện trong số các câu chuyện này làm một số bạn đọc cảm thấy phiền lòng vì
tính cách tiêu cực của câu chuyện. Dù vậy, chúng tôi trộm nghĩ, dù xấu dù tốt thì quý vị, những người đã và đang yễm trợ cho TTF trong công việc mà chúng ta theo đuổi bấy lâu nay cần được biết đúng như sự thật đã xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của các anh bên đó.
Khi tôi về đến Vũng Liêm thì mới biết được là nhà anh Thế ở bên kia cồn, và để đi đến nhà anh thì tôi phải đi đò qua sông mới đến được. Thú thật chuyện này làm tôi hơi lo lắng vì ngoài việc tôi không
biết bơi thì tôi lại là một ông già với những phản ứng khá chậm chạp. Nhưng thôi, việc gì đến sẽ đến, có muốn không) lo cũng chẳng được nào*. Đi gần đến bến đò thì tôi thấy đã có một nhóm người lao xao đang đứng đây đó chờ đò. Tôi nhập vào đám đông chờ đợi. Đang nhìn loanh quanh để giết thì giờ thì tôi bỗng thấy xa xa ở một góc khuất sau những đám cây cách bến đò một khoảng cách có một con đò nhỏ đang neo nơi đó. Kế bên chiếc ghe là một người thanh niên đang đứng mặt hướng về phía bến đò, lóng ngóng nhìn bọn đi đò chúng tôi. Tôi đoán anh chàng thanh niên này cũng cũng là một người chèo đò, chỉ hơi thắc mắc tại sao chàng ta không cột ghe nơi bến như những đồng nghiệp khác.
Do vì danh sách viếng thăm trong ngày khá dài mà chờ mãi cũng chưa thấy đò trở lại bến nên khi thấy chiếc ghe lẻ loi đó tôi mừng lắm, bỏ bến đò chính đi qua chiếc đò nhỏ đó với ý định hỏi thăm cách
qua cồn. Đúng như tôi đoán, chàng trai trẻ nói với tôi anh ta là người chèo đò và sẵn sàng đưa tôi qua cồn. Và cũng do tôi không thích ngồi trên những chiếc ghe đông khách (sợ .. ghe chìm!) nên tôi bằng lòng đi đò của chàng ta liền. Chàng thanh niên chèo đò giúp tôi lên ghe và bắt đầu chèo. Trong câu chuyện với chàng thanh niên chèo đò để hỏi thăm về người thương binh mà tôi đang trên đường đi tìm và những thương binh khác trong vùng thì tôi để ý thấy cái dáng ngồi chèo ghe của chàng thanh niên có vẽ gì không được thoải mái. Có một điều gì đó không được bình thường nơi chàng trai trẻ tuổi
này. Tôi để ý thêm thì thấy gót chân của anh chàng lúc nào cũng được đặt ở một nơi cố định nơi lườn ghe, khiến thế ngồi của anh không được tự nhiên thoải mái cho lắm. Tôi nêu lên thắc mắc này với chàng ta thì người thanh niên hồn nhiên trả lời cho tôi biết là nơi đó có một vết hở vì ghe của anh đã
bị mục nhưng vì nghèo quá không có tiền để sửa ghe nên anh chàng cứ liều mạng dùng đất sét trám vào chổ hở nơi lườn ghe, và vì anh sợ nước sông có thể đập trôi mảng đất sét trám ghe nên cứ phải ấn gót chân vào giữ để nước không vào được. Đây cũng là lý do khiến anh chàng không neo ghe ở bến đò được vì ghe không đủ an toàn để đăng ký hành nghề. Nói cách khác, anh chàng đang hành nghề
đưa đò chui! Khi đó tôi mới nhìn kỹ và thấy chung quanh nơi gót chân của anh ấn vào đã ướt nước và bắt đầu hoảng sợ. Đất sét! Trời ạ! Tôi la thầm trong bụng và nói với chàng thanh niên:
- Chú em à, tôi không biết bơi à nha!
- Không sao đâu bác. Con chèo ghe này mỗi ngày mà có sao đâu.
Mặc chú nói gì thì nói, tôi ngồi trên ghe mà cứ như ngồi trên đống lửa, trong lòng hồi hộp không yên, bụng cứ khấn thầm cho ghe chạy mau mau tới bờ trước khi bị ... chìm! Và chỉ khi bước chân được lên bờ thì tôi mời hoàn hồn.
Cuộc sống có những trùng hợp ngẫu nhiên mà ta không thể nào biết trước được. Chuyện tôi bước chân lên chiếc ghe bị mục hở lườn còn ly kỳ hơn nữa khi tôi khám phá ra rằng chàng thanh niên đưa đò đó lại chính là người con trai lớn của anh thương binh Thành, là một trong những thương binh có tên trong danh sách thăm viếng mà tôi đang trên đường đến nhà sau khi thăm anh Thế.
Dù là chiếc ghe không được an toàn như vậy nhưng gia đình anh cũng có được một số nhỏ khách đi đò thường xuyên. Họ là những người địa phương, biết rõ sự khó khăn của gia đình anh nên tìm cách giúp đỡ bằng cách đi ghe (không an toàn!) của gia đình anh. Chính cuộc sống của người thương binh tên Thành này cũng có những điểm rất thú vị. Xin mời quý vị xem câu chuyện về gia đình người thương binh này trong bài Những Dự Án Nhỏ Ngắn Hạn trong đặc san này.
***
Tôi bước xuống xe đi chầm chậm phía sau người tài xế xe ôm đang cẩn thận chăm chú dắt chiếc xe gắn máy trên bờ đất khá hẹp. Nhìn anh vất vả chen bước chân của mình giữa khoảng cách của hai bánh xe gắn máy tôi ước lượng bề rộng của bờ đất chừng năm tấc là cùng. Lúc nãy ngồi trên xe hơi lâu nên tôi cũng cảm thấy hơi cuồng chân, nên khi nghe anh tài xế đề nghị xuống xe đi bộ vì anh ngại bờ đất quá hẹp không đủ an toàn để chạy xe thì tôi mừng thầm, coi như một dịp để vận động chân cẳng cho thư giản. Nhưng khi lội bộ được một khoảng ngắn thì tôi mới biết là
thực tế không như tôi nghĩ. Với cái bề ngang khiêm tốn cùng sự trơn trượt của mặt đất thì việc cuốc bộ này đã trở thành một cuộc khiêu vũ với mặt đất mất rồi. Chỉ tội cho anh tài xế phải vất vả với chiếc xe của anh.
Tôi đứng trước căn nhà nhỏ tồi tàn, xập xệ. Chen lẫn với mấy tấm vách lá nhà đã mục cũ là những miếng nylon được đan từ những sợi nylon dẹp và mỏng đủ màu sắc, đủ cở khác nhau. Một chiếc ghe bị bể nơi mũi ghe được xếp nằm ụ một bên nơi cái sân nhỏ trước nhà. Có tiếng chân di chuyển phía trong nhà, tôi bước đến cái khoảng trống ở cái vách nhà mà tôi đoán là cửa nhà thì thấy người đàn ông lần mò đi ra. Anh bị mù. Sau lời chào hỏi thì tôi lại thấy một người đàn bà đi vào từ phía ngoài. Theo lời giới thiệu thì chị là vợ của người thương binh mù tôi vừa gặp. Chị chào tôi xong thì bước ngay vào trong nhà. Tôi nhìn theo bước chân của chị mà trong lòng thấy vừa ái ngại vừa thương cảm. Liếc nhìn anh tài xế xe ôm đang đứng gần đó, thấy ánh mắt nhìn lại của anh tôi biết anh cũng thấy điều tôi đã thấy. Cái trống không của gian nhà là
bằng chứng rõ ràng, chắc chắn nhất về cái nghèo khó thiếu thốn của chủ nhà. Nó cũng giải thích
được tại sao người đàn bà đó đã không có nổi một chiếc quần lành lặn, tươm tất hơn để mặc.
Sau khi mọi việc hoàn tất tôi bước ra sân thì đã thấy người tài xế xe ôm đã đứng chờ tôi nơi đó. Anh nhìn tôi rồi lắc đầu. Tôi hiểu ý anh. Mấy ngày nay anh đã chở tôi đi thăm viếng một số nơi rồi nhưng cho đến nay thì có lẽ hoàn cảnh của vợ chồng người thương binh này tang thương nhất. Trên đường về anh kể cho tôi nghe là trong khi tôi nói chuyện với người thương binh thì anh đi xuống sau nhà gặp người vợ. Anh đã vét hết tiền anh mang theo được hai chục ngàn đồng, đưa cho chị và nói với chị là anh tặng chị một bộ đồ mới. Tôi lặng người vì xúc động, và cũng vì một cảm giác ấm áp đột ngột kéo đến . Tôi nghĩ đến sự khó khăn của anh khi phải mở miệng nói với một người phụ nữ về một chuyện tế nhị như thế. Hơn thế nữa, anh vừa tiêu hết một phần không nhỏ số tiền anh kiếm được cho một ngày làm việc cho một người anh hoàn toàn
không quen biết. Trong một xã hội mà sự vô cảm trước cái đau của kẻ khác đã trở nên bình thường thì cái hành động vừa rồi của anh quả thật không bình thường chút nào. Tôi biết kể từ giờ phút này anh không còn là người tài xế xe ôm mà tôi đã thuê để chở tôi đến những nơi tôi yêu
cầu nữa rồi. Anh là huynh đệ của tôi, cũng như những huynh đệ đã sát cánh cùng tôi nơi chiến
trường khốc liệt năm xưa.
***
Người đàn ông cụt một chân cầm lấy mấy tờ giấy bạc tôi vừa đưa rồi lẳng lặng rút ra một tờ đưa
cho tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Chuyện gì vậy chú?
- Đây là phần của chú em. Cầm lấy đi. Hồi nào tới giờ vẫn vậy mà.
Tôi hoang mang không hiểu ông muốn nói gì. Đây không phải là lần đầu tôi đi thăm viếng, xác nhận tình trạng và trao phần tiền đã được dặn cho các chú thương binh. Cũng giống như những lần trước, trước khi lên đường tôi đã được nhắc nhở về những việc cần làm trước và sau khi trao tiền, cái việc “lịch sự” này tôi cũng được nghe nói đến và được dặn dò nhiều lần là phải từ chối. Thật ra dù không được dặn thì tôi cũng làm như thế thôi. Nhìn cảnh sống quá khốn khổ của những gia đình này, chỉ có những người nào vừa đui vừa điếc vừa mất hết nhân tính mới đủ nhẫn tâm để lấy tiền của họ. Thường thì tôi giao tiền đô la để dễ dàng trong việc làm sổ sách, tuy nhiên khi đi đến những địa chỉ ở vùng sâu vùng xa thì tôi đổi thành tiền đồng sẽ có lợi cho các chú thương binh hơn, vì đổi tiền ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế này khó khăn hơn nhiều mà hối suất lại thấp. Tính ra thì số tiền bị mất tương
đương với tiền dăm ba ngày làm việc của các chú, và đó là một số tiền khá lớn đối với những gia đình
nghèo như vậy. Chuyến này vì những người ở xa thành phố khá nhiều, và để cho gọn gàng tôi đã chọn đổi những tờ bạc lớn. Nhìn người thương binh chìa tờ 500.000đ cho tôi, tôi thực sự không tin vào mắt mình. Như vậy ông chia cho tôi hơn một phần ba số tiền vừa nhận (ông nhận được 1.3 triệu đồng). Tôi hiểu đây là một số tiền rất lớn đối với một người có hoàn cảnh sống như ông.
- Cháu không lấy đâu. Người ta dặn cháu đưa bao nhiêu thì cháu giao bấy nhiêu. Chú cất tiền
đi.
- Tội nghiệp tui mà chú em, chú em không lấy tui không dám nhận tiền đâu. Chú cầm dùm tui
đi, tui vẫn ghi cho chú đầy đủ mà.
Khi tôi càng từ chối thì ông càng hoảng sợ lo lắng. Có lẽ ông sợ tôi chê ít, không biết điệu nghệ ư? Hay ông sợ tôi không đến giao tiền trong những lần kế tiếp? Sau một lúc giằng co qua lại thì cuối cùng tôi cũng từ giã ông được để tiếp tục lên đường thăm viếng những thương binh khác cũng trong cùng một địa phương. Tôi đi nhưng trong lòng cảm thấy bất an. Vẽ mặt lo lắng đến cuống quýt của người đàn ông tàn phế vẫn còn ám ảnh tôi, và tôi biết ông cũng đang cảm thấy bất an y như tôi vậy. Ông bất an vì tôi đã cương quyết từ chối tờ giấy bạc ông đưa. Và tôi biết cảm giác bất an của ông sẽ còn ở với ông ít nhất là cho đến lần thăm viếng kế tiếp, nếu như tôi có dịp trở lại thăm ông lần nữa.
***
Tôi không còn ngạc nhiên nữa khi thấy người thương binh chìa ra cho tôi tờ giấy bạc, giống như những người thương binh mà tôi đã đến thăm viếng tại địa phương này đã làm, nhưng vẫn còn kinh ngạc vì các chú các bác “lịch sự” nhiều đến như vậy. Tôi nhẹ nhàng nói: - Cháu không dám lấy đâu, bác cất tiền đi.
Người thương binh già lẳng lặng rút thêm một tờ giấy bạc nữa với vẽ mặt cam chịu.
- Chú em cầm dùm tui đi, tui chỉ có bấy nhiêu thôi.
- Không. Cháu đã nói là cháu không dám lấy tiền của bác đâu. Thôi, cháu xin phép cháu phải
đi đây.
- Chú em cầm tiền đi, tui hổng có nói lại cho người nào biết đâu.
Lại một phen nữa giằng co, từ chối. Tôi đi ra khỏi nhà người thương binh già gần như là bỏ chạy.
Tội nghiệp cho các chú các bác quá. Cái bọn khốn khiếp giao tiền kia quả là những tên bất lương, đến những người tàn phế cùng khổ như thế mà vẫn không tha, vẫn muốn hút cho đến giọt máu cuối cùng.
Chưa bao giờ trong lòng tôi dâng lên sự căm phẩn đến tột cùng như thế này.
***
Tôi nhấc điện thoại, tiếng của Kha vang lên bên kia đầu dây nói:
- Ông thầy ơi, ông Mỹ ở An Giang cự em quá trời đất luôn, ổng nói mình ác ôn quá đi gạt ổng!
- Em nói rõ lại cho anh nghe chuyện gì vậy.
- Sáng nay em tới nhà ổng để xác nhận lại và đưa giấy tờ của hội cho ổng điền trước như ông thầy đã dặn. Nhưng khi ổng nghe em nói mình là hội ở ngoại quốc gửi tiền về cho thương binh hồi xưa thì ổng cự em liền, ổng nói là thấy ổng nghèo như vậy sao nỡ đi gạt tiền của ổng. Em nói là em không hiểu ổng nói gì vì đây là lần đầu tiên em gặp ổng. Ổng hỏi có thiệt em không cùng bọn với đám người giao tiền lần trước hả. Em nói em không biết ai hết thì ổng
dịu lại và kể với em là mấy tháng trước có hai người, một người đàn ông một người đàn bà, đi
xe gắn máy tìm đến nhà, nói là có hội nào ở ngoại quốc gởi ổng 500 đô la và biểu ổng ký biên nhận để nhận tiền. Ổng mừng quá lăng xăng ký giấy nhận tiền đưa cho họ. Một người cầm giấy ký nhận tiền của ổng xong giả bộ hỏi thăm này nọ vừa đi về hướng cửa rồi nhảy lên
chiếc xe gắn máy đang chờ sẳn chạy mất. Lúc đó ông mới nhớ là họ chưa giao tiền cho ông.
Ổng cự em là vì ổng tưởng em cùng bọn với hai người đó.
Nghe Kha kể xong tôi ngẩn ngơ. Sao có những người tham lam đến vô sĩ như thế chứ. Giựt tiền của người khác đã là một việc làm bất lương rồi, nhưng giật tiền của một người già nua vừa tàn phế vừa nghèo xác nghèo xơ thì nên được xếp vào loại gì nhỉ?
***
Tôi nhìn người đàn bà run run ký vào tờ biên nhận nhận tiền thay cho chồng. Nơi chị không có cái dáng vẻ quê mùa như tôi thường thấy nơi vợ của đa số các anh thương binh sống ở nơi đèo heo hút gió này. Thoạt đầu khi nói lý do có mặt của tôi với vợ chồng chị thì tôi cũng để ý thấy nét thay đổi trên mặt chị, như thể là chị đang cố gắng kìm giữ một sự xúc động nào đó. Chị nói chuyện lịch sự và
giữ khoảng cách với tôi. Khi nhận lại tờ biên nhận từ tay chị, dù là chị cố gắng nhìn nơi khác nhưng
tôi cũng thấy được những giọt nước mắt long lanh trong khóe mắt chị, đang chực chờ để tuôn ra.
Ra khỏi nhà một đoạn khá xa, tôi đem điều thắc mắc trong lòng về sự xúc động hơi quá đáng của người vợ anh thương binh Lễ ra hỏi anh dẫn đường. Thì ra, trước kia khi còn chiến tranh chị là cán bộ nằm vùng mà anh Lễ không hề hay biết, và vợ chồng anh vẫn sống hạnh phúc bình thường như những cặp vợ chồng thời chinh chiến khác. Đến khi miền Nam bị mất thì cả xóm đều ngỡ ngàng khi thấy chị trở thành một trong những các bộ lãnh đạo của xã, vì dù sao trong đám bọn họ chị cũng là người biết chữ nghĩa. Chị làm việc cho nhà nước được thời gian rồi nghỉ việc. Làng xóm không biết lý do tại sao chị lại nghỉ làm việc cho nhà nước, chỉ thấy chị không còn làm nữa thôi. Còn chị thì không bao giờ nói về chuyện này. Từ khi chị nghỉ làm cho nhà nước thì chị trở lại cuộc sống của
người dân đen như mọi người khác trong xóm, và vẫn gắn bó sống với người chồng “ngụy” và tàn phế như từ xưa. Anh dẫn đường kể lại là mỗi lần anh Lễ nhận được tiền giúp đỡ từ nước ngoài thì chị đều bộc lộ sự xúc động như tôi đã thấy.
Tôi bâng khuâng tự nghĩ, sự đau khổ do cuộc chiến đem lại cho người dân ở cả hai phe, hầu như ít có gia đình nào tránh né được. Tôi nghĩ đến chị Lễ, nghĩ đến sự “dứt tình” (hay bị “phụ tình”) của chị với nhà nước hiện tại là điều tất yếu mà thôi nếu chị chọn lựa để tiếp tục gắn bó với người chồng tàn phế của chị. Không thế thì ở “trên” nhìn xuống, bên ngoài trông vào sẽ thấy chướng mắt lắm nếu một cán bộ lãnh đạo xã lại có một ông chồng là “ngụy quân” sống kè kè bên cạnh.
Cuộc sống vốn dĩ phức tạp.
***
Cho đến một hôm kia về đến Măng Thít tôi lại có dịp phải qua sông thêm một lần nữa. Số là khi tôi
đi đến nhà anh Hai Son thì anh đang ở chổ làm. Theo lời người con trai anh giải thích thì anh làm cho một hãng làm gạch nhỏ và công việc của anh là đưa đất sét vào khuôn trước khi khuôn được đưa vào lò nung. Người con trai nói với tôi là anh ta sẽ chạy đến hãng gạch để kêu ba của anh ta về gặp tôi.
Để tiết kiệm thì giờ, tôi đề nghị trong khi anh đi đón ba của anh về thì tôi sẽ đi đến nhà một thương binh khác ở bên kia sông. Rút kinh nghiệm của lần trước đi ghe bể, lần này tôi nhờ cô con dâu của anh Hai Son thuê dùm tôi một chiếc xuồng cho đàng hoàng. Nghe tôi nói thế cô con dâu của anh Hai Son tình nguyện sẽ chèo xuồng đưa tôi đi cho chắc ăn. Ngồi trên xuồng nhìn sóng nước lăn tăn, gió trên sông hiu hiu thổi, mát rượi thiệt là thích. Vui miệng tôi nói với cô gái:
- Bác đi tìm giúp mấy người thương phế binh của mình.
- Ba của con cũng là thương binh đó bác.
- Vậy sao con không nói cho bác biết!
- Dạ hổng phải vậy. Ba con là Việt-cộng.
Tôi chưng hửng, rồi cười hỏi:
- Vậy ba của con với ba chồng của con có thuận với nhau không?
- Trời ơi! Hai ổng thân với nhau lắm đó bác. Tết nào ba của con cũng tặng ba chồng của con một chiếc dép.
- Ủa là sao vậy?
- Tết năm rồi ba của con sắm một đôi dép mới, ổng gói chiếc dép bên trái thật cẩn thận, đến ngày tết ổng xỏ chiếc dép bên mặt qua bên nhà ba chồng của con chúc tết, xong rồi ổng đưa chiếc dép bên trái để làm quà tết cho ba chồng của con.
- Sao kỳ vậy cháu? Cô gái cười lớn:
- Đâu có gì kỳ đâu bác. Ba con bị cụt chân trái trong khi ba chồng của con bị cụt chân phải mà!
***
Lần này do sự yêu cầu của hội tôi đi thăm viếng những chú thương binh không sống ở cùng một địa phương với tôi như những lần trước. Tôi được báo cho biết trước là những chú thương binh mà tôi sẽ thăm viếng không có được chứng từ hoặc hình ảnh rõ ràng nên tôi phải đặc biệt chú ý về việc xác nhận lại xem có phải các chú này thực sự là phế binh Việt Nam Cộng Hòa hay không. Dù đã được cậu tôi “huấn luyện” từ năm ngoái, và cũng có nhiều tự tin do đã “thực tập” nhiều trường hợp rồi; vậy mà trong chuyến đi lần này tôi cũng cảm thấy có chút gì nghiêm trọng hơn những lần trước. Có lẽ là do cái danh sách dài ngoằn với 35 địa chỉ mà khi nhìn tên các xã huyện thì tôi mù tịt. Còn có lý do khác nữa là khi “liều mạng” nhận lời đến địa phương này thì kể như tôi tự ... đem tôi bỏ chợ rồi. Tôi không có lấy một người thân hay bạn bè sống ở địa phương này, dù thân hay sơ. Tôi ước lượng với từng ấy người phải thăm viếng thì phải mất ít nhất hai ngày, nghĩa là tôi phải ngủ qua đêm đâu đó ở cái địa phương lạ hoắc này. Sau một ngày đã có một số người biết tôi có mang theo một số tiền lớn bên người. Nếu ai đó thật sự có ý đồ đen tối thì cái mạng của tôi cầm như là chỉ mành treo chuông
mà thôi. Ấy vậy mà khi gặp các chú thương binh thì nỗi lo lắng băn khoăn cũng dần tan biến theo
những lần gặp mặt. Nhiều chú vui mừng vì nhận được quà làm tôi cũng vui lây, rồi cũng có người đang hy vọng trở thành thất vọng vì không có tên nhận quà. Nhìn họ thấy thật đáng thương tâm. Có số gia đình thì đáng tiếc vì đã di chuyển chổ ở đến nơi khác mà không để tin tức nào cho lối xóm để tôi có thể lần mò tìm đến. Và cũng có vài ba trường hợp đa đoan, thực dụng làm tôi cảm thấy bẽ bàng, trong lòng không còn thiện cảm nữa trước những việc lươn lẹo, lắt léo một cách cố ý.
Người đàn ông cụt đôi chân vui mừng vừa nhận lấy mấy tờ giấy bạc tôi trao vừa nói lời cám ơn với tôi. Sau khi chụp hình ông xong xuôi thì tôi chào từ giã ông để còn đi đến thăm viếng một vài địa chỉ gần đấy. Ông hỏi tôi có thể cho ông coi tên của những người thương binh có tên nhận tiền hay không, khi thấy tên của hai chú khác mà địa chỉ gần nơi ông ở, cùng cụt hai chân như ông thì ông bảo tôi
- Cháu cứ giao 2 suất kia cho ông đi, còn thủ tục, chứng minh thì đã có sẵn đây rồi.
Ông đưa ra một CMND giả mà nhìn như thật, có tên đúng y như người thương binh mà tôi định sẽ tìm
đến sau khi rời nhà ông. Tôi hỏi:
- Cháu phải chụp hình nữa thì sao?
- Hình chụp thì khó gì! Ông sẽ cải trang, những lần trước gửi hồ sơ đi cũng làm như vậy mà.
- Cháu chỉ biết làm theo người thực, việc thực thôi, mong ông thông cảm.
Thấy không được như ý, ông bắt đầu lên giọng khó chịu, rồi dọa sẽ viết thư qua báo cho hội biết (là tôi không chịu trao tiền). Tôi nói:
- Ông cứ viết thư đi, đó là quyền của ông mà. Rồi tôi ôn tồn nói tiếp:
- Cháu chỉ là người thừa hành thôi, là thiên lôi thôi ông à.
Tôi từ giã ông, trong lòng có chút thất vọng. Nhưng đây không phải là trường hợp cá biệt tại địa phương này. Trong khi tiếp tục chuyến thăm viếng trao quà thì tôi gặp thêm hai trường hợp giấy tờ “ma” tương tự như thế. Và có thêm một trường hợp khác nữa là giấy tờ thì không “ma”, nhưng người thì lại là ... “người ma”.
Khi tôi tìm đến địa chỉ ông Hùng thì gặp được một người đàn bà trung niên tiếp tôi. Bà nhận là vợ của ông Hùng và nói với tôi rằng ông đã mất lâu rồi. Nhìn lên bàn không thấy ảnh thờ, tôi hỏi thì bà nói:
- Mấy đứa con trai đi làm ăn xa đem theo di ảnh của ổng theo để thờ rồi. Tụi nó nói để ở nhà sợ tui buồn.
Khi nói chuyện thì tôi thấy bà có vẽ lúng túng, chuyện trước chuyện sau không giống nhau nên quyết
định không trao tiền cho bà. Tôi nói với bà:
- Vì không gặp được bác trai nên cháu không dám giao tiền. Bác chờ cháu về hỏi lại hội, nếu hội đồng ý thì đợt tới cháu lại đến thăm bác.
Sáng hôm sau tôi cố ý đến khu nhà ở của bà thật sớm, nhìn thấy nhà bà cửa vẫn còn đóng chặt tôi lân la hỏi thăm người hàng xóm ở cách bà mấy căn nhà. Thật sự có một người thương binh tên là Hùng. Theo người hàng xóm này tả lại thì ông Hùng cũng bị mù đúng với thông tin mà hội báo cho tôi biết. Nhưng ông Hùng đã mất từ nhiều năm trước rồi. Người đàn bà mà tôi gặp hôm qua không phải là vợ của ông Hùng. Bà chỉ là người ở cùng huyện nhưng khác xã với ông Hùng mà thôi. Từ khi ông Hùng mất thì bà tự nhận là vợ của ông để nhận phần tiền mà các hội thương phế binh ở hải ngoại gửi về
giúp đỡ cho ông Hùng.
Tôi rời thị trấn, nơi tôi đã sống trọn hai ngày với cảm giác vui buồn nuối tiếc lẫn lộn. Dù vui hay buồn, mỗi một sự kiện mà tôi đã chứng kiến, mỗi chia sẻ mà tôi đã có được tôi sẽ ghi vào ký ức của cuộc đời. Từ khi tham gia vào công việc nhân đạo này, tôi đã đi từ sự lạ này đến sự lạ khác, từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cầu xin ơn trên trả công bội hậu và ban phước lành xuống cho các gia đình ân nhân đang sống nơi hải ngoại.
***
Người đàn bà với vẻ mặt chất phác hiền lành lộ vẻ ngại ngùng nói với tôi:
- Ổng ra sông rồi, không có ở nhà.
- Chị có biết bao giờ ảnh về không?
- Thường thì giờ này ổng cũng sắp về rồi, nhưng có hôm ổng cũng về trễ lắm.
Tôi đang đứng trong sân nhà anh thương binh tên Năm, nghe chị nói anh không có ở nhà và nghĩ tới cái danh sách dài lê thê đang chờ tôi đi thăm tôi nóng ruột muốn bỏ đi thăm nơi khác trước rồi sẽ trở lại đây sau, nhưng khi nghĩ đến đoạn đườngvừa đi qua tôi lại hơi ngại, đổi ý ở lại chờ gia chủ. Theo thông tin tôi được biết thì người thương binh tôi đang chờ gặp mặt bị cụt hai chân sát háng, như vậy
thì “ra sông” có nghĩa là gì đây? Tôi hỏi thì được người vợ cho biết là anh đi vớt củi trên sông, và đây là thu nhập chính của gia đình anh. Tôi nhìn quanh, gian phòng tương đối trống trải. Từ nơi ngồi tôi có thể nhìn thấy tất cả các tấm vách nhà khá rõ vì không có đồ vật nào che chắn tầm nhìn của tôi. Những cột kèo sườn nhà nhìn vẫn còn tốt nhưng nóc nhà và vách lá đã riệu hết rồi. Trong cái ánh
sáng ban ngày, những tia nắng lớn nhỏ rải rác xuyên qua trên nóc nhà, vách lá từ những lỗ hổng do lá
mục tạo ra trông như những ngọn đèn thắp sáng thêm cái không gian nhỏ của gian nhà. Đang nói chuyện hỏi thăm chị Năm thì tôi nghe tiếng la lớn từ xa vọng lại:
- Bà ơi bà!
- Ổng về rồi đó.
Chị Năm nói xong lật đật đứng lên đi ra theo hướng chiếc cầu ván sát ngay thềm nhà trước. Chiếc
cầu ván dài và hẹp dẫn từ thềm nhà và xuống thấp dần khi đến bờ sông. Ở cuối chiếc cầu ván bây giờ đang có một chiếc xuồng nhỏ đang bập bềnh trên dòng nước mờ đục màu bùn, một người đàn ông vẻ mặt rắn rỏi ngồi dưới xuồng, những cây củi đủ cở được xếp khá ngay ngắn chung quanh nơi ông ngồi. Chị Năm đứng trên chiếc cầu ván nói gì đó với người đàn ông rồi đưa cả hai tay hướng phía về dưới chiếc xuồng, người đàn ông cũng đưa cả hai tay nắm lấy hai bàn tay của chị rồi nương theo sức kéo của chị để leo lên ngồi trên chiếc cầu ván. Bản thân tôi cũng là một thương binh loại 3. Tôi đã được may mắn vì người bác sĩ chửa trị cho tôi lại là một đứa bạn rất thân của tôi. Nó đã tìm đủ mọi cách để giữ lại được chiếc chân phải của tôi. Tuy nhìn bên ngoài thấy lành lặn nhưng chân tôi rất yếu không dùng sức được, ngay cả khi đi đứng bình thường hàng ngày tôi cũng phải đi từ từ chứ không thể đi lẹ. Nhìn hai đôi tay gầy guộc nắm lấy nhau, chuyền sức cho nhau để vượt qua những khốn khó của của cuộc sống tôi chỉ biết đứng trơ mắt nhìn chứ không giúp đỡ gì được; vả lại chiếc cầu ván cũng hẹp
lắm, nếu tôi có muốn giúp cũng không có chổ đâu mà đứng. Nửa tấm thân người lơ lửng trong khoảng không gian giữa chiếc xuồng và chiếc cầu ván, đong đưa đong đưa. Chị Năm cố gắng nghiên người về phía sau để tăng thêm sức kéo anh lên. Chầm chậm, từ từ rồi anh Năm ngồi lên được trên chiếc cầu ván, rồi anh bắt đầu dùng hai tay để lết từng đoạn ngắn trên chiếc cầu ván để lên nhà. Tôi để ý thấy chiếc quần đùi của anh bị ướt một mảng.
Chúng tôi vào nhà, tôi nói cho anh biết lý do tôi đến tìm anh và trao phần quà cho anh. Nhớ lại cảnh chị kéo anh lên chiếc cầu ván (theo anh kể lại thì lần nào về tới nhà thì anh phải la lớn lên để chị biết mà ra kéo anh lên như thế), và hình dung lại hình ảnh cũ kỹ của chiếc xuồng tôi hỏi anh:
- Sao anh không kiếm nghề gì khác cho đỡ nguy hiểm.
- Lúc trước tôi có thử bán vé số rồi, nhưng người bán thì đông mà anh cũng biết ở làng quê như nơi tui ở đâu phải ai cũng có tiền mua vé số đâu. Người ta phải lo cho nồi cơm trước chớ. Tui bán không khá nên xoay qua nghề vớt củi trên sông; cực thì có cực nhưng cũng kiếm được chút đỉnh để sống. Bây giờ tui chỉ lo là mai mốt đây cái xuồng nó riệu hơn tui không biết
xoay sở ra sao đây!
- Xuồng anh còn tốt không?
- Thì tui cũng đang xài đó chứ. Nó bị mục nhiều rồi, tôi đi vớt củi hôm nào nước cũng vào ghe một ít nhưng chưa có tiền để sửa nên cứ để vậy mà đi.
- Ý trời! Anh đâu có để như vậy được, có bửa nào nó chìm đó. Sao anh không để chỉ kiếm chuyện gì làm kiếm thêm chút tiền cho anh đỡ vất vả?
- Úy, đâu được nè. Bả bị bịnh tim nặng lắm, để bả đi làm rủi bả té xỉu thì tui biết làm sao đây?
Mình là đàn ông con trai không lẽ không nuôi nổi vợ con mình sao anh? Vì lo cho anh đi ghe nguy hiểm, tôi buột miệng:
- Hay anh thử đi ăn xin coi sao?
- Đâu có được nè anh. Khi tui còn hai bàn tay thì tui tự lo cho tui được mà.
Tôi im lặng không nói gì thêm nữa, trong lòng kính phục anh tiểu đội trưởng Nghĩa Quân của năm xưa. Anh dù bị thương nặng nề đến như vậy nhưng vẫn chưa là phế, vẫn cố gắng để sống một đời sống lương thiện hơn nhiều con người khác; những người với một tấm thân mạnh khỏe và nguyên vẹn nhưng lại sống bám vào xã hội, hoặc có những thủ đoạn bất lương để cướp giựt của cải của người khác. Đây mới chính là lũ phế nhân!
|